Dữ liệu văn hóa Việt Nam

Hồ sơ

Các thay đổi

Nguyễn Trãi

thêm 4.343 byte 18:48, ngày 11 tháng 4 năm 2020
không có tóm lược sửa đổi
Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán.+ TIỂU SỬ:
Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổisinh năm 1380, mẹ ông mất. Sau đó không lâuhiệu là Ức Trai, Trần Nguyên Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê(Thường Tín, Hà Tây).Năm 1400Cha là Nguyễn Phi Khanh, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọngmột học trò nghèo, Hồ Quý Ly lật đổ nhà học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nôThị Thái, hạn điềncon Trần Nguyên Đán, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tếmột qúy tộc đời Trần.
Cũng năm 1400Lên sáu tuổi, mất mẹ, sau khi lên ngôi Vuamười tuổi, Hồ Quý Ly mở khoa thiông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê, nơi cha dạy học. Nguyễn Trãi ra thiNăm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ Thái thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổivà hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước tạ Nguyễn Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi và một người em đi theo chăm sóc. Hồ Quý Ly cử Nghe lời cha khuyên , ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha Sau đó, ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn từ tìm theo Lê Lợi. Suốt mười năm 1374chiến đấu, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giámông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Năm 1406Đầu năm 1428, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quét sạch quân sang xâm lược Việt Namthù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Nhà Hồ đem quân ra chống cựSau đó ông được tha, nhưng bị đánh bạikhông còn được tin cậy như trước. Ông buồn, xin về Côn Sơn. Đó là vào những năm 1438 - 1440. Cha con Hồ Quý Ly Năm 1440, Lê Thái Tông mời ông trở lại làm việc một số giao cho nhiều công việc quan trọng. Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra vụ nhà vua chết đột ngột ở Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh). Vốn chứa thù từ lâu đối với Nguyễn Trãi, bọn gian tà ở triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốcđình vu cho ông âm mưu giết vua, khép vào tội phải giết cả ba họ năm 1442.
Nghe tin cha bị bắtNỗi oan tày trời ấy, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tùhơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải tỏa, rồi cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai sống sót cho làm quan.Nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:
- Con là người có họcNhìn chung, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?ở cuộc đời Nguyễn Trãi nổi lên hai điêm cơ bản sau:
Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước.Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm tàicủa lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến. O*? Nguyễn Trãi có một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, tìm cách dụ dỗmột nhà văn, nhưng ông kiên quyết không theo giặcmột nhà tho* tầm cỡ kiệt xuất.
Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nhưng Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi. Ông gặp vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang. Ông trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi cũng Bình Ngô sách.Trong bài tựa ức Trai di tậpmột người đã phải chiụ những oan khiên thảm khốc, Ngô Thế Vinh cho biết: Bình Ngô sách "hiến mưu trước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người"do xã hội củ gây nên cũng tới mức hiếm có trong lịch sử.
Lê Lợi khen chiến lược của Nguyễn Trãi là đúng. Và ông đã vận dụng chiến lược này để đánh quân Minh. Từ đây, ông thường giữ Nguyễn Trãi gần bên mình để cùng bàn mưu tính kế đánh quân Minh.+ SỰ NGHIỆP THƠ VĂN:
Cuối năm 1426- Nhà văn, nhà thơ lớn: là anh hùng dân tộc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn, Lê Lợi lập bản doanh ở bến Bồ Đề (Gia Lâm)nhà thơ lớn. Ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Tại đây"Quân trung từ mệnh tập" là những thư từ gửi cho các tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh, nhằm thực hiện kế "đánh vào lòng", ông cho dựng một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quanngày nay gọi là địch vận. "Bình Ngô đại cáo" lấy lời Lê Lợi ngồi tầng thứ nhất của chòitổng kết 10 năm chống giặc, tuyên bố trước nhân dân về chính nghĩa quốc gia, Nguyễn Trãi ngồi tầng thứ haidân tộc, về qúa trình chiến đấu gian nan để đi đến chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại hòa bình cho đất nước. "Lam Sơn thực lục" là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. "Dư địa chí" viết về địa lý lịch sử nước ta. "Chí Linh sơn phú" nói về cuộc chiến đấu chống giặc Minh gian khổ và anh hùng. Hai nhân vật luôn luôn trao đổi ý kiến với nhauCác tác phẩm ấy đều là văn bằng chữ Hán.
Trong kháng chiếnVề thơ, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh được giặccó hai tập: "Ức trai thi tập" bằng chữ Hán, "Quốc âm thi tập" bằng chữ Nôm, tức chữ Việt, cứu được nước. Khi kháng chiến đã thắng lợiđó là thơ cả một đời, ông cũng thấy rằng phải lo từ lúc trẻ đến dântuổi già, thì mới xây dựng được đất nướcnhiều nhất là khoảng 10 năm tìm đường và thời gian về nghỉ ở Côn Sơn. Trong tờ biểu tạ ơn được cử giữ chức Gián nghị đại phu tri tam quân sưNội dung thấy rõ trong đó là tâm tình đối với quê hương, gia đình, ông đã viết: "Chí những muốnvới nước, việc cố nhân đã muốn: để tâm với dân chúng, mình lo trước điều thiên hạ phải lo"với bao éo le trong cuộc đời...
Năm 1437- Tình yêu quê hương gia đình: Nội dung thơ văn ông rất phong phú. Đây chỉ nói vắn tắt một vài khía cạnh. Nét đầu tiên là niềm tha thiết với thiên nhiên ở quê hương. Bắt đầu là những cái nhỏ nhặt, tưởng như không đâu, nhưng chan chứa thân thương. Rau muống, mồng tơi, râm bụt, cây chuối, cây đa, cây mía... đều thành vần điệu. Đào, liễu, tùng, trúc cao sang đứng liền bên cạnh rau muống, khi vua Lê Thái Tông cử mồng tơi quê mùa một cách tự nhiên. Không chút gì phân biệt sang hèn. Tất cả đều được lòng ông định trìu mến. Ông nói một cách trang trọng: "Hái cúc, ương lan, hương bén áo, Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn", mà cũng vừa vui tươi chân chất: "Ao cạn, vớt bèo cấy muống, Trì thanh, phát cỏ ương sen". Ông phát hiện ra lễ nhạccái đẹp bình dị rất bất ngờ: Đêm trăng gánh nước thì gánh luôn trăng đem về ("Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về"). Bầu trời không mây, trong suốt một màu xanh, ông cũng nói cho vua biết những điều mà vua phải làm trước hết thấy đó là một bầu ngọc đông lại ("Thế giới đông nên ngọc một bầu"). Thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi, ông nhìn thành một đám tằm lúc nhúc ("Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi"). Con rùa, con hạc, núi, chim, mây, trăng, ông coi là con cái, là láng giềng, chăn nuôi nhân dânanh em:- Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn "Rùa nằm, hạc lẩn nên bầy bạn, U ấp cùng xóm vắngta làm cái con...", "Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam". Có lúc, ông như hòa tan mình vào thiên nhiên đến mức dòng suối, tảng đá phủ rêu, không vòm thông tán trúc như hòa nhập với ông làm một: "Côn Sơn một suối rì rầm. Ta nghe như tiếng hờn giận oán sầuđàn cầm bên tai, Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm, Trong lèn thông mọc như nêm, Tha hồ muôn lọng ta xem chốn nằm, Trong rừng có bóng trúc râm, Giữa màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn"... Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc(Côn Sơn ca - dịch).
Do luôn luôn "lo trước điều thiên hạ Tiếp theo là niềm tha thiết với bà con thân thuộc ở quê nhà. Thời còn giặc Minh, nhiều năm ông phải lolẫn tránh khắp nơi, xa nhà, xa quê, xa bà con thân thuộc với bao nỗi buồn rầụ Đêm thu, xa nhà, vui sau cái vui của thiên hạ"bên ngọn đèn khuya, Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống một cuộc đời giản dịông day dứt: :Gió thu đến, cần kiệm liêm chínhlá rụng rồi. Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh mình vẫn lận đận quê người, Đêm mưa, bên ngọn đèn leo lét, hồn mộng cứ vẫn vơ mãi nơi đất khách" (góc thành Nam lều một gianĐêm thu đất khách - dịch). Khi Tiết Thanh minh đến, theo tục, con cháu phải về thăm mồ mã ông bà, sửa sang, bồi đắp, thắp nén hương tưởng nhớ, cho đúng đạo làm con cháu, thế mà đã bao năm ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắckhông về được. Ông chỉ não lòng: "Thân mình xa ngàn dặm, nhà của mồ mã ông Côn Sơn "bốn mặt trống trảiquê không sao giẫy cỏ thắp hương, Mười năm đã qua, những nguời ruột thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai, Đành mượn chén rượu ép mình uống, xác xơ chỉ có sách là giàu thôikhông cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê" (thơ Nguyễn Mộng Tuân, bạn Nguyễn TrãiThanh minh - dịch).
Bài Bình Ngô đại cáo của Ông mất mẹ lúc mới lên sáu. Lòng con thương mẹ càng nồng. Ông bà ngoại, cậu, dì đều ở Côn Sơn. Quê nội nhiều đời cũng ở đó. Một lần đi thuyền về thăm, ông là một ôn lại bao nỗi đắng cay trong những ngày lưu lạc. Nghe sao mà tha thiết: "thiên cổ hùng vănMười năm rồi mình trôi dạc như cánh bèo, Đêm ngày nổi nhớ quê cứ như giày vò trong lòng, Bao lần đã gửi hồn tìm về quê cũ, Nhưng rồi đành nhỏ nước mắt thấm máu mà gội rửa trong tưởng tượng nấm mồ mẹ, mồ mã ông bà, còn xóm làng, bà con, trong lúc giặc giày xéo thì tránh sao được những hành vi bạo tàn của chúng! mà mình thì cứ đang phải thương xót suông, Trời: biết làm sao đây! Một đêm trôi qua bên gối, không cách nào nhắm mắt được". Đó là một thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc(viết trên thuyền về Côn Sơn - dịch).
Quân trung từ mệnh tập - Đời sống trong sạch, suốt đời một lòng vì nước vì dân: Trở về với nông thôn, ông yên lòng và tự hào: "Quê cũ nhà ta thiếu của Nguyễn Trãi nào, Rau trong nội, cá trong ao". Cấy cày những thư từ do ông viết trong việc giao thiệp với quân Minhniềm vui: "Một cày một cuốc thú nhà quề, Áng chúc lan chen vãi đậu kê". Người dân bùn lấm đáng được biết ơn: "Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày". Những thư này Cuộc sống giản dị, nghèo mà thanh: "Bữa ăn dầu có dưa muối, Áo mặc nài chi gấm những tài liệu cụ thể chứng minh đường lối ngoại giao vào địch ", "Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bô quen cật vận hết sức khéo léo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi xềnh xoàng", xa lánh chốn lợi danh nham hiểm: "Co qoe thay bấy ruột ốc, Khúc khuỷu làm cho quân Lam Sơn không mất xương máu mà hạ được rất nhiều thànhchi trái hòe".Quốc âm thi tập Ông ca ngợi chi tiết của Nguyễn Trãi là tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn tùng, trúc, mai, ba cây không chịu khuất phục trước giá lạnh mùa đông và ông luôn giữ được. Tác phẩm này rất quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam và lịch sử ngôn ngữ Việt Nammột tấm lòng trong sạch, một tấm "lòng thơm".
Năm 1442, cả gia đình ông bị hãm hại (tru di tam tộc) khiến cho người đương thời vô cùng Lòng thơm ấy là lòng yêu nước thương tiếcdânNăm 1464Có khi ông gọi đó là "lòng trung hiếu", vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi"lòng ưu ái". Nó suốt đời sôi nổi: "Bui có một lòng trung liễn hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen", "Bui một tấc lòng ưu ái cũ, truy tặng quan tước và tìm hỏi con cháu còn sót lạiĐêm ngày cuồn cuộn nước triều đông". Nó dựa trên lý tưởng nhân nghĩa.Nguyễn Trãi Nhân nghĩa là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Namtư tưởng cao qúy xuyên thấm cuộc đời và thơ văn ông. Đối với ông , nhân nghĩa "yên dân", "trừ bạo" hay "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược". Được như vậy mới thực sự "Có nhân, có trí, có anh hùng". Nhân trí, anh hùng dân tộcấy thuộc lòng yêu nước cao cả của ông, là nhà yêu nước bằng tư tưởng, nhà thơtình cảm, bằng hành động cứu nước lo dân tuyệt vời. Nói cụ thể như : "cái nhân, nhà văn hóa cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt bạo tàn, vì độc lập của nước ta, hạnh phúc của dân". Tâm hồn Đất nước bị ngoại xâm, nó hiện thành lòng lòng căm thù giặc cao độ sự nghiệp của ông mãi mãi là ý chí kiên trì, gang thép tiêu diệt quân thù: "Căm giặc nước thề không cùng sống", "Nếm mật nằm gai, há phải một sớm hai tối, Quên ăn sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng giận, sách lược thao suy xét đã tinh"ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo. Quân giặc quét sạch rồi, nó là khát khao xây dựng một đất nước hưng thịnh, nhân dân đời đời ấm no hạnh phúc: "Xã tắc từ đây bền vững, Giang sơn từ đây đổi mới....  * Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc* Bình ngô đại cáo Muôn thởu nền thái bình vững chắc". [[Thể_loại:Văn_chương_Việt_Nam]][[Thể_loại:Danh_nhân_Việt_NamTruyện_cười_dân_gian]]
Người dùng vô danh